Chuyển đến nội dung chính

Cái ghẻ

1. Đại cương
  • Là bệnh lây, phổ biến nhất ở Việt Nam, chiếm 3,9% điều trị tại BV Da liễu TP.HCM.
  • Thường gặp là trẻ em và phụ nữ. Do Sarcoptes Scabiei (cái ghẻ) gây ra.
  • WHO: là bệnh lây qua đường tình dục.
2. Đặc điểm sinh học của cái ghẻ
  • Con đực chết sau khi di giống.
  • Con cái trưởng thành dài khoảng 200 micromet
  • Sống bằng cách đào đường hầm dưới da (giữa lớp sừng và lớp hạt)
  • Thời gian sống khoảng 30 ngày, để trứng sau vài giờ đào hầm.
  • Trứng thành ấu trùng trong vòng 10 ngày.
  • Thường hoạt động về đêm, chết khi ra bên ngoài 3 - 4 ngày.
  • Lây chủ yếu người qua người.
  • Tập trung thường ở bàn tay, cổ tay.
3. Triệu chứng lâm sàng
3.1. Thời gian ủ bệnh: trung bình 2 - 8 ngày.
3.2. Triệu chứng
  • Triệu chứng cơ năng (phụ thuộc vào bệnh nhân khai, có thể đúng có thể sai)
    • Ngứa nhiều về đêm.
    • Ngứa vùng da non nhiều.
    • Xung quanh có nhiều người bị ngứa.
    • Mức độ ngứa tùy theo mỗi người.
  • Triệu chứng thực thể (Khi khám trên bệnh nhân): 3 loại
    • Có giá trị chẩn đoán:
      • Xuất hiện ít 20 - 30%, ngày nay còn 10% trường hợp.
      • Rãnh ghẻ: cái ghẻ đào hầm, đi tiêu ngay trên da nên có màu nâu, dài vài mm, hơi cộm, mụn nước là nơi cái ghẻ ở.
    • Giúp chẩn đoán:
      • Mụn nước: nằm rải rác, trắng đục, vùng da non.
      • Sẩn cục hay sẩn mục nước hay ngứa: nốt nhô cao trên đầu có mụn nước. Đặc hiệu hơn mụn nước. Thường gặp ở trẻ em. Gặp ở nách, bìu giúp chẩn đoán.
    • Không đặc hiệu nhưng thường gặp:
      • Dấu gãi.
      • Vết chàm hóa.
3.3. Vị trí sang thương
  • Sang thương ở khắp người, trừ mặt (trừ trẻ em hay bệnh nhân AIDS)
  • Trường gặp ở vùng da non: kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, quanh rốn, nếp dưới rốn, dưới vú, da đùi, da bộ phận sinh dục, nách...
3.4. Dịch tễ học: có nhiều người xung quanh cùng bệnh.

4. Biến chứng

  • Chàm hóa.
  • Viêm da mũ: thường do liên cầu khuẩn.
  • Tổn thương móng: tăng sừng dưới móng, màu xám, có thể thấy cái ghẻ.
  • Viêm cầu thận cấp và phù toàn thân: hiếm, thường do độc tố của cái ghẻ hay vi trùng bội nhiễm.
  • Nhiễm trùng huyết.
  • Tiểu albumin: thường nhẹ, gặp ở trẻ con bị ghẻ nặng.
5. Chẩn đoán
  • Chẩn đoán xác định
    • Tìm thấy cái ghẻ ở sang thươnng, nhưng ít làm.
  • Các kỹ thuật xét nghiệm tìm ghẻ:
    • Cạo da.
    • Dùng kim tách cái ghẻ.
    • Sinh thiết thượng bì...
  • Chẩn đoán phỏng định: khả năng đúng > 90%
    • Tính chất sang thương da: rãnh ghẻ, sẩn ngứa, mụn nước vùng da non.
    • Vị trí sang thương: không ở mặt, có vùng da non.
    • Ngứa: nhiều về đêm.
    • Dịch tễ học: có nhiều người bị bệnh ghẻ.
  • Chẩn đoán phân biệt:
    • Tổ đĩa: nằm mặt ngoài các ngón không có ở thân mình.
    • Chí rận: ngứa lưng, sau ót, sang thương cào gãy nhiều hơn.
    • Săng giang mai ở đàn ông: hạch đặc tính không viêm, xét nghiệm máu.
    • Chàm thể tạng: vị trí đặc hiệu của bệnh.
6. Điều trị
6.1. Nguyên tắc điều trị
  • Chẩn đoán sớm, điều trị thích hợp, tránh biến chứng.
  • Điều trị cho người tiếp xúc mắc bệnh.
  • Vệ sinh quần áo cá nhân tránh lây lan cho cộng đồng, tái nhiễm.
  • Bôi thuốc đúng cách.
6.2. Thuốc
  • Chủ yếu là bôi thuốc.
  • Cách bôi thuốc ghẻ
    • Tắm với nước tím pha loãng ( 1/4.000 -1/10.000), ấm.
    • Bôi xà phòng toàn thân chú ý nếp gấp, rửa sạch với nước tím loãng ấm.
    • Thoa thuốc đặc trị toàn thân từ đầu 1 lần/ngày vào buổi tối, mặc quần áo sạch và 24 giờ sau tắm lại.
    • Sau 2 - 3 ngày không hết lại thoa như trên.
    • Không dùng corticoides.
    • Thuốc dùng: ghẻ nặng không dùng được thuốc sớm.
  • Điều trị triệu chứng:
    • Giảm ngứa: kháng histamin H1 thường uống buổi tối.
6.3. Diệt nguồn lây
  • Quần áo nên giặt sau 1 tuần: vì cái ghẻ chết sau khi ra ngoài môi trường.
  • Quần áo nên đun sôi: 80 - 90 độ C trong 5 phút, vì cái ghẻ chết ở 60 độ C.
  • Điều trị cho cả người xung quanh bị ngứa.
6.4. Theo dõi điều trị
  • Sau 3- 5 ngày điều trị, không nổi sang thương, ngứa tồn tại sau 2 tuần.
7. Phòng bệnh
  • Vệ sinh hàng ngày với xà phong ở kẽ tay, các nếp.
  • Khi có người bị ngứa vào ban đêm nên kiểm tra ghẻ.
  • Tránh tiếp xúc với người bị ghẻ.
  • Nếu đã bị ghẻ nên tránh tiếp xúc với người xung quanh, tránh lây cho cộng đồng.
  • Nếu có biến chứng phải điều trị bệnh chuyên khoa.
  • Khi hết biến chứng mới nên trị ghẻ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Mai chiếu thủy - Phân biệt: Thanh mai, Kim thanh mai, Lá tứ, Kim giòn

Phân loại theo kích thước lá (là phân loại cơ bản): Lá lớn Lá trung: thanh mai, lá tứ, đuôi chồn,.. Lá kim: kim thanh mai, kim giòn, kim đuôi chồn, kim lá tứ xù. Rất dễ nhầm lẫn khi phân biệt thanh mai và kim thanh mai. Phân loại theo màu vỏ cây: đen, xanh, vàng, trắng. Và phát sinh thêm nhiều loại khác là do đột biến: mai lá tư, kim thanh mai, thanh mai... Kỹ thuật chăm sóc mai chiếu thủy đơn giản hơn các loại khác. Quan trọng là đừng để cây bị úng ngập nước. Chất trồng cơ bản: tro trấu, sơ dừa và 1 ít phân bò. Thanh mai:  Hoa lớn, ít Kim thanh mai:  Ít hoa, nhỏ.  Thích hợp làm bonsai Mai chiếu thủy lá tứ:  Lá nhỏ.  Nhiều hoa, nhỏ.  Ít chơi bonsai Mai chiếu thủy kim giòn:  Lá xanh hơi ngả màu vàng.  Thân giòn, khó uốn.  Ra hoa nhiều, nhỏ So sánh: Mai chiếu thủy lá trung và kim thanh mai: kim thanh mai lá nhỏ hơn, màu xanh đậm Mai chiếu thủy lá trung và kim dòn: kim dòn đuôi lá tròn, dày hơn. Lá trung đuôi lá nhọn, mỏng hơn Mai chiếu thủy lá tứ và ki

Vi phẫu thực vật

Vi phẫu lá sả Vi phẫu lá sả

Cỏ ngọt

 Cỏ ngọt Tên khoa học:  Stevia rebaudiana Asteraceae Tên gọi khác: Cúc ngọt Nguồn gốc: Châu Mỹ Thành phần: Lá chứa (% chất khô) 6,2% protein, 5,6% chất béo, 52,8% từ carbohydrate,  15% Stevioside  và khoảng 42% chất hòa tan trong nước. Công dụng: - Hiện nay được sử dụng như chất tạo vị ngọt thay thế đường trong chế độ ăn kiêng đường. - Trong Đông Y, cỏ ngọt được sử dụng trong bài thuốc điều trị đái tháo đường, béo phì, bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch. Lịch sử Người Ấn Độ đã sử dụng trong nhiều thế kỷ loài Stevia rebaudiana để làm chất tạo ngọt và thuốc. Năm 1931, nhà hóa học người Pháp đã phân lập một  Glycoside  có hương vị ngọt ngào từ lá của cây này. Chúng được gọi là  Stevioside  và cô lập như chất aglycone tạo ngọt. Vị ngọt của Stevioside được ước tính vào khoảng 300 lần mạnh hơn mía 4. Kể từ khi các phân tử khác dựa trên chất ngọt ít hơn được phân lập cùng aglycone, chúng có độ ngọt khác nhau từ 30-450 như các rebaudioside (AF), rubusoside, steviolbioside và dulcoside. Stevioside